Chuyển đến nội dung chính

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU?

Google từ khoá “trí tuệ nhân tạo” sẽ ra hơn 30 triệu kết quả và dẫn đầu là những trang với tựa như “nguy cơ trí tuệ nhân tạo thao túng con người” hay “trí tuệ nhân tạo đã đạt đến trình độ sáng tác ngôn ngữ mới khiến con người ‘như vịt nghe sấm’ “. Nghe cứ như năm sau là các robot trong The terminator sẽ đến bắt con người làm nô lệ cho chúng vậy.
677908f2c748cbfe9ee01120e33d7dd1

Rốt cuộc trí tuệ nhân tạo là gì và nó đã phát triển đến đâu?
Theo wiki thì trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) là trí tuệ được biểu diễn bằng bất kì một hệ thống nhân tạo nào.
Thực ra để đạt được tầm trí tuệ nhân tạo toàn diện (general AI) như trong các bộ phim viễn tưởng về AI – có thể kể đến như The terminator, Ex Machina, Her, v.v… – thì chặng đường còn rất xa. Hiện nay các nghiên cứu khoa học mới nhất về trí tuệ nhân tạo chỉ dừng ở chơi cờ, chơi game, nhận diện khuôn mặt, dự đoán giá cả, nhận diện đối tượng trong hình, đặt tên cho hình (caption), chẩn đoán bệnh, v.v… – nói chung là những tác vụ rời rạc. Nghĩa là AI hiện nay chỉ là một nhánh AI hẹp, phát triển những thuật toán liên quan để ứng dụng vào những bài toán trên một cách tự động, có thể tiết kiệm sức người.
Đơn cử như Sophia, một robot cảm xúc đã được cấp quyền công dân của Ả Rập Saudi mà thậm chí còn không hiểu quyền công dân nghĩa là gì, nhưng Sophia đã trả lời rất trơn tru trong các buổi phỏng vấn, talkshow. Sophia khá hài hước và làm người coi thót tim khi nói rằng cô ta sẽ “destroy human”- tiêu diệt loài người. Câu nói này nằm trên tít lớn của bao nhiêu tờ báo nổi tiếng.
Câu trả lời cho câu hỏi ai cũng thắc mắc về khả năng đối đáp và thể hiện cảm xúc trên khuôn mặt nằm ở sự kết hợp của nhiều phần xử lí khác nhau bên trong cỗ máy robot mang tên Sophia. Và các phần này chủ yếu ứng dụng AI. Trong đó, Sophia có thể nhận ra Jimmy Fallon nhờ một phần mềm nhận diện khuôn mặt, và chắc hẳn Sophia đã được huấn luyện để có thể dễ dàng nhận biết hình của Jimmy theo mọi góc nhìn. Sophia còn là một chatbot, tương tự như Siri. Một chatbot sẽ học các đoạn đối thoại, đưa ra đối đáp phù hợp, và tiếp tục học trong quá trình tương tác. Với lượng người dùng chat qua internet lớn như hiện nay, để trả lời một cách thông minh như Sophia không phải khó. Ngoài ra, Sophia còn có một trung tâm xử lý ngôn ngữ để nghe và nhận diện những gì người đối diện nói, đồng thời phân tích cảm xúc để phản hồi lại bằng cách thể hiện qua cử chỉ và nét mặt.
sophia-the-robot
Vậy cái gì đằng sau những thuật toán để AI có thể làm tất cả những điều này?
Giải thuật phổ biến nhất hiện nay được sử dụng trong AI là mạng nơ-ron (neural network – viết tắt là NN), bắt chước cách vận hành của tế bào thần kinh con người. Nhưng thực chất, độ phức tạp của NN cách rất xa so với não bộ ở người.
Bản chất của NN chỉ là một phép ánh xạ phức tạp bằng cách kết hợp rất nhiều phép ánh xạ phi tuyến tính trong một mạng nhiều lớp. Nghĩa là dữ liệu đi qua rất nhiều lần xử lí, nhiều thông số, trọng số tinh chỉnh để đến được ngõ ra như mong muốn của người sử dụng.
Trong khi đó, tế bào thần kinh của người phức tạp hơn nhiều. Ngoài một mạng tế bào gồm hơn 100 tỉ tế bào kết nối với nhau theo khu vực (localised), tế bào thần kinh người còn giao tiếp với nhau dựa vào quá trình phân hoá các dẫn chất hoá học (neurotransmitter, neurorecepter, v.v…) bên cạnh giao tiếp bằng cách phóng điện tương tự như trong NN. Hơn 100 tỉ tế bào này còn kết nối với nhau bằng những liên kết phức tạp; có những tế bào kết nối đến hơn 10.000 tế bào khác để trao đổi thông tin.
Với mạng nơ-ron thô sơ như hiện nay, AI phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu đầu vào (gọi là cách tiếp cận theo dữ liệu – data-driven approach). Ví dụ như để thắng kì thủ cờ vây, AlphaGo đã phải học tất cả các thế cờ có thể, và dựa vào chính sách (policy) thưởng phạt để đạt kết quả cuối cùng. Có nghĩa là số lượng phép tính cực kì khủng. Nhưng dàn máy móc khủng AlphaGo này chỉ biết chơi cờ vây.
Hay để phân loại một tấm hình là chim, ngựa hay xe hơi, tàu thuỷ thì cần phải đưa vào mạng nơ-ron của AI cả nghìn những tấm ảnh tương tự cho mỗi loại.
Như đã nói ở trên, AI chỉ ứng dụng cho những tác vụ rời rạc, khác xa với bộ não con người. Não người cũng có sự phân hoá, chia nhiệm vụ cho từng vùng, nhưng rất phức tạp, và một vùng có thể xử lí nhiều nhiệm vụ khác nhau. Những phần này kết hợp nhịp nhàng với nhau và cả với những cơ quan khác trong cơ thể như tay chân, tai, mắt, lưỡi, họng, v.v… Ngoài ra còn có một phần xử lí thực thi, để chuẩn mực hành động, cư xử của con người cho phù hợp với văn hoá, pháp luật và mọi nền tảng xã hội khác. Điều này làm nên sự khác biệt lớn giữa con người và máy móc.
robot-sophia-goc-nhin-alan
Chưa nói đến tương lai xa xôi khi AI phát triển tối ưu nhất, mà với khả năng hiện tại thì AI cũng có thể giúp ích cho con người rất nhiều. Xe không người lái đã được đưa vào sử dụng, chẩn đoán y khoa, dự đoán giá cổ phiếu với độ chính xác cao, giao thông thông minh, nhà ở thông minh đang trên đà phát triển. Những sự tự động hoá này sẽ giúp tăng chất lượng cuộc sống của con người lên, con người có thể tập trung vào trải nghiệm của bản thân mình hơn, có nhiều thời gian cho nghệ thuật hay những hoạt động khác hơn. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa sẽ có sự dịch chuyển lớn về nhân sự và sự vận hành trong xã hội. Vai trò của con người sẽ dần dần được định nghĩa lại cho phù hợp với yêu cầu của xã hội tương lai.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

SỨC MẠNH CỦA THÓI QUEN TỐT

Dạo trước mình thường hay bỏ bê bản thân, bỏ bê theo kiểu nuông chiều. Mình nghĩ là mình lên lab stress, mệt mỏi lắm rồi nên mình kệ, mở tủ thấy gì mặc nấy, buổi sáng dậy ăn tạm miếng bánh xong cuống cuồng cào cái đầu, quơ cái mặt, đúng nghĩa là quơ vì lấy nước tạt tạt quơ quơ, còn k buồn lấy sữa rửa mặt, vớ cái túi (mà ngày nào cũng đựng từng ấy thứ như ngày nào) rồi chạy. Mình nghĩ đấy là nuông chiều, thương yêu bản thân mình (vì mình ứ care mấy đứa nhìn mình, mình xấu đau con mắt tụi nó chứ mình có thấy đâu mà sợ). Xong bẵng đi một thời gian mình bắt đầu thấy mệt mỏi, chán chường thật sự. Nhìn bản thân nhếch nhác, chồng con nhếch nhác, nhà cửa nhếch nhác, công việc nhếch nhác. Mình stress nặng. Mình đi gặp bác sĩ. Bác sĩ nhấn mạnh là phải tập thể dục thường xuyên, phải giữ daily routine (đại loại là thời gian biểu cố định hằng ngày) TỐT. Tra các thể loại sách báo, google, chúng nó cũng bảo yêu bản thân đi, tập thể dục đi, chăm chút cho bản thân đi. Vầng, em nghe. Thế là đi ...

RỐI LOẠN LO ÂU (ANXIETY DISORDER)

Rối loạn lo âu là bệnh thần kinh xảy ra khi người bệnh lo lắng quá mức cả về thời gian (lo âu trong thời gian dài hơn bình thường), và cường độ. Rối loạn lo âu có thể xuất hiện cùng với cơn hoảng loạn (panick attack), hoặc rối loạn cảm xúc lưỡng cực (bipolar disorder), rối loạn khí sắc (mood disorder), hay rối loạn lo âu xã hội,… Hầu hết triệu chứng của rối loạn lo âu [1] gồm có: • Hoảng sợ, lo lắng • Khó ngủ • Không thể bình tĩnh hoặc ngồi yên • Tay hoặc chân lạnh hoặc chảy mồ hôi hoặc run rẩy • Tim đập nhanh • Thở gấp • Khô miệng • Buồn nôn • Chóng mặt • Căng cơ Thường thì một khi rối loạn lo âu đã bị kích lên (triggered), người bệnh không thể kiểm soát được triệu chứng cũng như suy nghĩ nếu không có sự giúp đỡ của thuốc. Cũng như khi quả bóng bị xịt và bay ra khỏi tay ta, nó sẽ chỉ rơi xuống khi nào không còn hơi bên trong, ta không còn kiểm soát được nữa. Nghiên cứu hình ảnh não người trong rối loạn lo âu cho thấy khi triệu chứng lo âu được kích hoạt, hạch hạnh nhân ...

SỐNG TRONG GIA ĐÌNH NHIỀU THẾ HỆ, NÊN HAY KHÔNG?

Đi ngược với sự trở lại của gia đình đa thế hệ ở các nước phương tây, ngày càng có nhiều gia đình nhỏ ở Việt Nam muốn được tách riêng, thoát ly khỏi sự ảnh hưởng của bố mẹ, ông bà (nhà chồng hoặc nhà vợ). Chúng ta có thể lí giải thế nào về sự khác biệt này? Và ưu nhược điểm của mô hình gia đình đa thế hệ ở mỗi nền văn hoá là gì? Sau thế chiến thứ 2, ở Mỹ và nhiều nước phương tây, xu hướng sống độc lập dần trở nên phổ biến. Cho đến năm 1980, số gia đình đa thế hệ ở Mỹ giảm xuống thấp nhất trong lịch sử, chỉ chiếm 12% tổng số dân số Mỹ, so với năm 1940 là 25% – giảm một nửa (số liệu: Pew Research, 2016). Thực tế và nghiên cứu đã chứng minh những người sống độc lập có khả năng thành công cao hơn những “em bé người lớn” ba bốn mươi tuổi vẫn dựa dẫm vào cha mẹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng trẻ em sống cùng với mẹ đơn thân và ít nhất một ông/bà đạt kết quả học tập ở trường tốt hơn các em sống cùng cha mẹ nhưng không có ông/bà ở cùng. Đặc biệt, những em sống chung n...